Đặng Lê Nguyên Vũ: Một Doanh Nhân Thành Đạt Thời Kỳ Đổi Mới
Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014
Xin được phép giới thiệu với các bạn một
bài viết rất hay về cuộc đời của anh Đặng Lê Nguyên Vũ. Bài viết dài,
nhưng cách viết rất cuốn hút và câu chuyện rất hấp dẫn nên tôi tin các
bạn sẽ đọc được hết cả bài để cảm nhận một phần cuộc đời của anh Vũ.
—0—
I – THÔNG TIN CƠ BẢN
- Tên: Đặng Lê Nguyên Vũ
- Sinh ngày 10-2-1971
- Nơi sinh: Nha Trang, Khánh Hòa
- Chủ tịch Hội đồng quản trị/ Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Cà phê Trung nguyên
- Tên tiếng Anh: Trung Nguyên Coffee Company, JSC
- Địa chỉ: 286 Nguyễn Tất Thành, Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lăk
- Trung tâm kinh doanh: số 3 Phan Văn Đạt, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
II – CÁC GIẢI THƯỞNG ĐẠT ĐƯỢC
- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ trao tặng năm 2000
- Giải thưởng Doanh nghiệp Sao Đỏ do Hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam trao tặng năm 2002
- Giải thưởng Sao Vàng Đất Việt năm 2003 của Hội Doanh nghiệp trẻ Việt Nam trao tặng
- Huân chương Lao Động hạng Ba được Nhà nước trao tặng năm 2004
- Bằng khen của ủy ban dân tộc trao tặng về thành tích xuất sắc đóng góp trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội vùng.
- Giải thưởng Doanh nghiệp xuất sắc ASEAN 2004
- Danh hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao” (1999-2007) chín năm liền do người tiêu dùng bình chọn.
III – THỦA THIẾU THỜI
1. Gia đình- đi học
Tôi xuất thân trong một gia đình nghèo,
ba mẹ sống bằng nghề nông với công việc ruộng đồng, làm rẫy cà phê… nên
tôi không xa lạ gì với những công việc nặng nhọc, cực khổ của nhà nông.
Quá khứ trong tuổi thơ thời đi học của tôi là cảnh lội bộ đi học trên
quãng đường dài 15km trong suốt chín năm đi học. Ngày nắng cũng như ngày
mưa, trước mắt là con đường đất đỏ dài hun hút với vòng quay của đôi
chân cậu bé học sinh cứ đi mải miết trên con đường. Niềm vui trên con
đường về nhà của tôi là khi đi ngang qua trạm thuế vụ thì thỉnh thoảng
có được quả chuối chín hoặc vài củ khoai lang ăn sống của những người
buôn bán đi ngang qua trạm. Nhưng cảm thấy vui nhất là khi có những
chiếc xe chở gạch đi cùng đường với mình để có thể leo tót lên phía sau
chiếc xe để đi nhờ về nhà hoặc đến trường học. Chỉ đến khi vào học lớp
10 thì gia đình tôi mới mua cho tôi một chiếc xe đạp cũ để lên Buôn Ma
Thuột đi học.
2. Trăn trở
Tôi thi đậu Đại học Y khoa Tây Nguyên
năm 1990. Từ xã Madrak hẻo lánh, mẹ tôi bán đi nhiều tạ lúa và nhiều thứ
trong nhà để tôi vác ba lô về thành phố Buôn Ma Thuột nhập học.
Lẽ ra tôi không nên thi vào Y khoa hay
học Y khoa. Tôi thi Y vì tôi học giỏi. Nhưng những ngày học ở trường Y,
tôi lúc nào cũng trăn trở và không có một ngày nào là không nghĩ về công
việc và cuộc sốngcủa một người thầy thuốc. Càng học lên năm thứ hai,
năm thứ ba thì điều đó càng bứt rứt trong lòng tôi. Tôi nhìn các anh chị
đi trước và thấy đồng lương công chức họ nhận được chỉ đủ ăn sáng. Muốn
có thêm ăn trưa, ăn chiều và mua nhà, mua xe thì khó ai có thể làm theo
lời thề Hippocrate. Và phần nhiều trong số những người học Y chúng tôi
đều quên lời thề này. Tôi xót xa vì điều đó.
Tôi quyết không làm điều đó. Nhưng cách tốt nhất không vi phạm điều đó là… bỏ nó luôn, làm việc khác. Nhưng làm gì đây?
Làm gì khi tuổi 22 tôi chưa biết được.
Nhưng thiêu đốt trong lòng tôi là không thể sống mòn sống mỏi với đồng
lương công chức khi ra trường. Thiêu đốt trong lòng tôi là phải làm được
điều gì đó để đổi đời. Không thể nghèo mãi được. Mẹ tôi nghĩ cuộc sống
nghèo của gia đình chúng tôi là số mệnh ở trời. Mỗi lần tôi về thăm nhà
là mẹ tôi lại vừa vui lại vừa lo sợ. Vui vì có con trai về thăm nhà và
sợ khi mỗi lần tôi rời nhà lên trường thì mẹ phải kiếm đâu đó đưa cho
tôi một hai trăm nghìn để lên trường học. Vì lẽ đó mà tôi rất ý thức về
cái nghèo của mình nên từ năm thứ hai, tôi đã quyết định đi làm thêm để
có tiền trang trải cuộc sống sinh viên. Trong những giờ chơi, giờ sinh
hoạt ngoại khóa, hay tự học tôi nhìn những bạn bè mình được thoải mái
tập trung vào việc học thì bản thân phải tách mình ra khỏi những việc đó
để bươn chải làm thêm, kiếm sống đã khiến tôi mang nhiều mặc cảm, những
suy nghĩ day dứt về sự nghèo khó của mình. Chính cái nghèo tận cùng đó
làm trong đầu tôi lúc nào cũng điên cuồng vùng vẫy như con thú hoang
khao khát tự do. Tôi đọc Lưu Trọng Lư khi còn đi học và bị ám ảnh suốt
bởi những câu ông nói về giới hạn của cuộc sống. Năm tôi 16-17 tuổi, ba
tôi bị bệnh nặng mà vay mượn hết trong đại gia đình không tìm đâu đủ 2
triệu đồng để chạy thuốc thang, tôi thề không quên những ngày tháng khó
khăn đó.
Tôi luôn nghĩ về những người trồng cà
phê như bố mẹ tôi. Tôi biết cà phê rất có giá nhưng không biết vì sao
những người trồng cà phê lại rất nghèo. Những người trồng cà phê vẫn
nhẫn nại mỗi ngày cháy da trên nương rẫy, như mẹ tôi, không lời thở
than. Tôi không chịu được vậy. Nghĩ tới sự cam chịu là huyết quản tôi
sôi sùng sục.
Tôi còn nhớ căn nhà tôi trọ học có một
khoảng sân nhỏ nằm sâu trong một con hẻm dài hun hút, những buổi chiều
tối đi lại trong khoảng sân nhỏ đó, nhìn ra con hẻm sâu với phía xa xa
là hai dãy núi với một khe núi cũng rất nhỏ như một ánh sáng le lói,
mong manh. Trong khung cảnh đó tôi cảm thấy bức bối vì những ý nghĩ của
sự mặc cảm, nghèo khó và sự cam chịu. Miếng ăn hay cuộc sống lúc đó đối
với gia đình tôi không quan trọng bằng suy nghĩ là sống như thế nào.
Tôi nghĩ rằng mỗi chúng ta cần ý
thức được giới hạn của cuộc sống để lựa chọn một lối sống. Đã chọn là
phải hy sinh, phải cam kết. Ý thức về sự giới hạn của cuộc sống
và hoàn cảnh gia đình đã tác động rất lớn đến tư tưởng của tôi. Sự ám
ảnh của cái nghèo, sự bức bối của tư tưởng phải hành động để thoát ra
khỏi cái nghèo khó của gia đình, thoát ra khỏi sự mặc cảm của bản thân
đã thôi thúc tôi hành động, luôn luôn quanh quẩn hối thúc chính mình với
những ý nghĩ phải làm điều gì đó cho gia đình, cho bản thân.
IV- GIAI ĐOẠN HÀNH ĐỘNG
Khi tôi quyết đinh dứt áo rời nhà ra đi
thì mẹ tôi đã khóc rất nhiều nhưng nước mắt của bà đã không lung lay
được ý định của tôi. Tôi vẫn quyết định ra đi vì nếu không đi
thì tôi không chịu nổi sự tù túng của những suy nghĩ, không chịu nổi sự
cam chịu của nghèo khó và chính vì tôi không cam chịu nổi nên tôi chọn
con đường ra đi.
Trong lớp tôi ai cũng bảo tôi không bình
thường với những ý nghĩ như vậy. Tôi chỉ có ba người bạn có thể hiểu và
chia sẻ được những điều tôi nghĩ. Cuối năm học thứ ba, tôi trình bày ý
định “đi giang hồ”. Ba người bạn thân của tôi tròn mắt. Cái lý của tôi
chỉ là tôi không chấp nhận ngủ trong giường chiếu hẹp, mơ những giấc mơ
con. Rồi thì lũ bạn cũng xuôi theo ý định ngông cuồng của tôi và lũ lượt
vét hết tiền trong túi nhét cho tôi, gần được một trăm ngàn.
Tôi ra bến ngoắc xe vào Sài Gòn. Dự định
trong tôi là đi tìm ông chú, xin một việc gì đó để làm, giặt giũ, quét
cầu thang gì cũng được, miễn là ra đi không trở lại, mà có trở lại thì
cũng là ngày vinh quang tươi sáng. Tôi đã nói điều này với ba người bạn
thân của mình trước lúc chia tay.
Ngồi trên chiếc xe cà khổ lắc lư tôi ngủ
gà ngủ gật, mơ những giấc mơ không đầu không đuôi lẫn lộn với cảm giác
không biết điều gì đang chờ đợi mình, không biết mình được đón tiếp ra
sao. Trên chuyến xe, tôi đã nghĩ đến giải pháp nếu không được chấp nhận
thì tôi sẽ đi làm phụ hồ hoặc một công việc chân tay nào ở Sài Gòn và
tôi tin mình sẽ làm được vì sức vóc cộng với sự lam lũ từ nhỏ khiến tôi
không ngại bất kỳ công việc gì.
6 giờ sáng, xe đến bến xe miền Đông, tôi
đến Sài Gòn khi trong túi đúng còn hai chục ngàn. Tôi rụt rè mua một lý
cà phê vỉa hè giá hai ngàn đồng ròi nhâm nhi và mở to mắt nhìn Sài Gòn
cho biết. Sài Gòn to quá, không như trong tưởng tượng của tôi. Tôi rụt
rè gõ cửa căn nhà ông chú. Chú tôi người Đà Nẵng, di cư vào Sài Gòn đã
lâu. Tôi chưa từng gặp mặt ông và dĩ nhiên ông cũng không thể biết là
ông có một đứa cháu là tôi.
Mãi đến trưa chú tôi vẫn chưa về. Mệt,
đói và buồn ngủ khủng khiếp. Tôi chỉ còn hơn mười ngàn đồng, không thể
phung phí được. Sài Gòn tiếp đãi một kẻ có âm mưu tháo cũi sổ lồng cuộc
đời mình như tôi đáng để cho tôi không bao giờ quên. Sau này, thỉnh
thoảng tôi vẫn tìm lại cái góc nhà nơi mình đã ngồi lần đầu tiên khi
xuống Sài Gòn. Nó để lại trong tôi nhiều kỷ niệm vào đời.
Khi đọc cuốn hồi ký của ông Chủ tịch tập
đoàn Huyndai có đoạn viết ông đã canh cửa suốt mấy ngày đêm ở sở cảnh
sát để thuyết phục họ không cản trở công việc kinh doanh hay trong cuốn
hồi ký của Chủ tịch tập đoàn Daewoo kể về việc ông đã quỳ suốt mười mấy
ngày trước ngân hàng để thuyết phục ngân hàng cho vay tiền. Tôi thấm
thía được một điều rằng: điều khó nhất là vượt qua chính bản
thân, vượt qua sự tự ái của chính mình. Điều mình làm không sai nhưng
nếu không có mục đích rõ ràng, không thắng được lòng tự ái của bản thân
mình thì ông chủ tịch Huyndai, Daewoo không thể kiên trì làm được những
điều như vậy.
Khi chú tôi về, hai chú cháu hàn huyên
tâm sự. Tôi bày tỏ cạn nỗi lòng của mình: một, quyết đi không trở lại;
hai: việc gì cũng làm; ba: phải đổi đời. Tôi kể với chú những điều tôi
nung nấu. Về chuyện nghèo là nhục. Về chuyện bà tôi bệnh mà cả dòng tộc
không thể đào đâu ra đủ hai triệu đồng…chú tôi nghe tất cả nhưng rồi
“gút”: tất cả những điều cháu nung nấu đều đúng nhưng không phải lúc
này. Việc lúc này là học cho xong cái đã. Ông chỉ chiếc cầu thang trong
nhà: mỗi lần leo cầu thang chỉ nên đi một bậc. Cuối cùng ông hứa: học cho xong đi rồi xuống Sài Gòn ông giúp cho làm ăn. Còn trước mắt, cứ ở chơi, chừng nào chán thì về.
Tôi ở đúng mười ngày thì tư tưởng bắt
đầu dịu lại, suy nghĩ về việc tiếp tục đi học. Hôm về, chú mua cho vé
máy bay. Lần đầu tiên bay trên bầu trời, tôi có cảm giác lâng lâng, cảm
xúc mênh mang trong không gian bao la lần đầu tiên thật khó tả. Và ngay
chính lúc đó, tôi đã có ước mơ được bay đi khắp thế giới, có thể thời
điểm đó là điên rồ nhưng những cảm xúc lần đầu tiên sống trong ước mơ
của mình đều có thật, thật sự quan trọng đối với tôi. Tôi thấy mình bình
tâm hơn nhưng khao khát vẫn còn đang sùng sục trong huyết quản mình.
Tôi trở lại giảng đường và bắt đầu con đường riêng của mình.
V- BẮT ĐẦU KHỞI NGHIỆP
Phòng trọ của tôi có ba đứa. Rất thân,
đều là những đứa có thể nói chuyện và hiểu nhau, không nghi ngờ về nhau
là thằng này, thằng kia không bình thường. Tôi có lẽ là đứa nghèo nhất
trong đám đó nên tôi cũng là người sùng sục trước chuyện làm ăn nhất.
Tôi nghĩ: tại sao nông dân trồng cà phê vẫn nghèo trong khi trên thế
giới, có quốc gia không trồng được cà phê vẫn giàu vì cà phê? Tại sao cà
phê mình chỉ có thể xuất thô mà không chế biến để xuất khẩu?…Bốn thằng
chúng tôi cùng chia sẻ suy nghĩ này và hùn tiền, mua một lò rang cà phê.
Thuận lợi của chúng tôi lúc đó là trong
trường có nhiều sinh viên tứ xứ đổ về học nên biết được nhiều nơi có cà
phê ngon để tìm đến học hỏi thêm. Tôi còn nhớ, ở Tuy Hòa có một quán cà
phê rất ngon nên ngày nghỉ, chúng tôi đi xe xuống tận quán để hỏi thăm
bí quyết của cô chủ quán. Đến nơi vào buổi trưa thì cô chủ quán đã đi
nghỉ trưa, chúng tôi đành phải ngồi chờ đến 2, 3 giờ chiều mà trong lòng
sốt ruột vì sáng mai đã phải đi học. Khi cô chủ quán thức dậy, chúng
tôi trình bày lý do và nguyện vọng của mình. Đêm đó, chúng tôi trở về
lại Buôn Ma Thuột trong chuyến xe khuya với tấm lòng của cô chủ quán đã
chỉ cho chúng tôi bí quyết chế biến rang xay cà phê ngon.
Ngày khai trương lò rang cà phê, chúng
tôi cũng tổ chức cúng vái đầy đủ nghi lễ để lấy hên nhưng khi vừa cúng
xong thì người bà con của ông chủ nhà về thấy vậy đã hất đổ tung tóe mọi
thứ, cắt bỏ hết dây điện không cho chúng tôi làm lò rang cà phê.
Vì vậy mà chúng tôi chuyển lò rang cà
phê đi nơi khác. Lò rang quay bằng tay, đốt bằng củi. Hôm nào rang cà
phê bên dưới là mấy thằng ngồi học bài trên cái gác gỗ cũng như bị nướng
cả người, như ngồi trong lò bát quái. Hàng xóm thấy cách làm ăn của tụi
tôi phiêu lưu quá, có ngày phát hỏa thiêu rụi cả xóm như chơi cho nên
đi báo công an. Và lò rang của chúng tôi cũng phải dẹp đi nhưng lúc đó
trong suy nghĩ của tôi thì vẫn cứ thôi thúc phải tiếp tục làm.
Chúng tôi góp hết tiền để mua cái lò
rang nên không còn tiền để mua cà phê về rang. Không còn cách nào để vay
mượn thêm bởi chỗ có thể vay thì đã khai thác rồi. Cuối cùng, tôi đánh
liều cọc cạch đạp xe đi…mượn cà phê nhân. Những cái lắc đầu nguầy nguậy
không khiến chúng tôi nản lòng, kể cả những câu vu vơ ném theo mà người
nói vô tình còn người nghe như xát muối: “Mấy thằng sinh viên khùng
khùng này…”.
Nhưng cũng có những người giang tay với
chúng tôi, chúng tôi mượn mỗi lần vài ba ký, rang, xay, đóng gói và chia
nhau đi bỏ mối ở quán cà phê. Sau đó thu tiền lại, trả cho người ta và
mượn tiếp vài ký khác. Cứ thế…những đồng tiền chúng tôi kiếm được như
con kiến tha lâu đầy tổ. Logo của những bịch cà phê Trung Nguyên lúc này
chỉ là một mũi tên chỉ thẳng lên trời. Chỉ hình ảnh đơn giản ấy thôi đã
chứa đựng trong đó biết bao khát vọng của chúng tôi.
Thương hiệu cà phê Trung Nguyên của nhóm
“mấy thằng sinh viên khùng khùng” chúng tôi bắt đầu được chú ý và ưa
chuộng. Tôi là dân trồng cà phê nên biết lựa loại hạt ngon để cho ra
những phin cà phê đậm đà và thơm lừng. Năm 1996, chúng tôi quyết định
bung ra làm ăn.
Nói cho oai vậy thôi chứ khi chúng tôi
bung ra và khai trương “Hãng cà phê Trung Nguyên” ở Km3( Thành phố Buôn
Ma Thuột) với chiều rộng 2,8 m thì dân cư ở đâu cai cũng cười ngặt
nghẽo: hãng gì mà ọp ẹp phát khiếp! nhưng lúc đó, tôi đã có tư tưởng là
nhất định một ngày nào đấy chúng tôi sẽ trở thành một hãng cà phê nổi
tiếng và đàng hoàng hơn. Toàn bộ ảnh hiệu của “hãng” đều do chúng tôi tự
vẽ, tự sơn phết với chi chít chữ, chỉ có logo “Hãng cà phê Trung
Nguyên” hình mũi tên là nổi bật nhất. Chúng tôi hì hục sơn vẽ, đục đến 3
giờ sáng để treo tấm bảng hiệu cho kịp sáng mai khai trương. Mà khách
hàng khai trương của chúng tôi cũng chính là những người bạn sinh viên
học cùng trường, cùng lớp đến uống cà phê cho vui với chúng tôi. Có thể
hãng của chúng tôi nhỏ và ọp ẹp không giống ai, nhưng với chúng tôi, đó
là một sự kiện trọng đại trong đời và trọng đại trong lịch sử phát triển
của Trung Nguyên. Nghĩ lại từ cái “hãng” này để giờ đây được tới Nhật
bản, Singapore…tôi nghĩ rằng chỉ có tư tưởng vơi ước mơ mạnh mẽ thì chắc
chắn mới làm được nhiều thứ. Lúc đó tôi làm được là do khí chất của con
người tôi: đã làm cái gì là làm hết mình.
Ngồi trong cái hãng nhỏ bé đáng tự hào
của mình ở tít tận phố núi cao nguyên, tôi căng mắt nhìn về hướng Sài
Gòn và cảm thấy chưa đủ sức. Và tôi chọn đồng bằng Sông Cửu Long với
điểm đến là An Giang với ý nghĩ lấy từ cảm hứng chiến tranh “Lấy nông
thôn bảo vây thành thị”.
VI- TRƯỞNG THÀNH
Làm ăn thời buổi bấy giờ không ai ngồi
đợi hữu xạ tự nhiên hương. Phải năng động chạy đôn chạy đáo tiếp thị cho
người ta biết mình , tin mình và làm ăn với mình. Khi còn đi vay cà phê
để rang, chúng tôi đã dám bỏ tiền ra đăng ký tham gia một hội chợ ở
thành phố Nha Trang. Tôi nghĩ không đâu có thể biết nhanh và lan tỏa
thông tin tốt hơn cái chợ, dù dưới hình thức nào. Bao nhiêu tiền lời
chúng tôi làm ăn được đều đập hết cho cú tiếp thị hoành tráng đầu đời
này. Sau đó lại tiếp tục đi vay mượn cà phê. Tài sản đáng giá nhất của
hãng là cái xe đạp cuốc mà hàng ngày chúng tôi thay phiên nhau đạp xe đi
bỏ mối xà phê. Đã có những thời điểm mà chúng tôi bế tắc về suy nghĩ,
về phương thức kinh doanh vì không bán được cà phê.
Không chỉ tham gia các đợt hội hè như
vậy, hễ có cơ hội là chúng tôi tìm cách giới thiệu cà phê của mình. Năm
1995, nghe phong thanh Thủ tướng Võ Văn Kiệt về thăm và làm việc với
tình Đak Lak, tôi bật ngay ra ý nghĩ: phải giới thiệu cho được cà phê
Trung Nguyên của mình với Thủ tướng. Nhưng tiếp cận với Thủ tướng để
tặng bịch cà phê là không tưởng. Tôi chuẩn bị “quà tặng” của mình rất kỹ
nhưng lần nào mon men tiếp cận cũng bị bật ra bởi hàng rào cảnh vệ.
Không bỏ cuộc, tôi chuyển sang…tặng những gói quà cà phê này cho các anh
cảnh vệ, với lời nhắn “quà của nhóm sinh viên Đại học Tây Nguyên gửi
tặng Thủ tướng”. Sau này có dịp ngồi tiếp chuyện với bác Sáu Dân (Nguyên
Thủ Tướng Võ Văn Kiệt), tôi nhắc lại kỷ niệm đó và hỏi là bác có nhận
được quà không, ông chỉ cười. Tôi không biết món quà đó có tới tay Thủ
tướng không nhưng tôi biết mình đã làm được một việc chấn động đối với
chính cá nhân mình lúc đó: dám nghĩ, dám làm, tự đè bẹp được cái nhút
nhát thông thường và không dè dặt trước cơ hội.
Chúng tôi đã tìm được một đối tác ở Long
Xuyên và đã thuyết phục họ cùng hợp tác với chúng tôi mở lò rang xay
chế biến cà phê, phân phối cà phê tại Miền Tây. Nhưng chỉ sau một vài
tháng, chúng tôi thất bài hoàn toàn, mối liên kết và đồng thuận về tư
tường hành động với đối tác bị phá vỡ. Tôi còn nhớ rất rõ cảm giác thất
bại ê chề của đoàn quân chúng tôi khi lục tục cuốn gói với đồ dùng và lò
quay cà phê tay cũ kỹ, là ly tách, là phin muỗng cà phê, là mấy bịch cà
phê đi về Sài Gòn mà trong lòng ai cũng nặng trĩu không một tiếng nói,
mỗi người một ý nghĩ khác nhau, mông lung và hoang mang. Cảm giác còn
mang nặng sự giằng co về tư tưởng giữa sự dứt khoát và không dứt khoát
với đối tá.
Riêng tôi lúc đó thì suy nghĩ rất rõ
ràng: thà dứt khoát còn hơn vẫn cứ tiếp tục hợp tác trong sự khó khăn,
toan tính đối phó với nội bộ thì đâu còn sức lực để bươn chải, để chiến
đấu ngoài thị trường. Sự thất bại trong việc hợp tác đầu tiên này làm
tôi rút ra được một kinh nghiệm: khi hợp tác thì phải đồng thuận về tư
tưởng, phải chia sẻ được những suy nghĩ, phương thức kinh doanh và điều
quan trọng nhất là phải chọn đúng đối tác.
Chuyến đi thu gom đồ dùng vật dụng từ
Long Xuyên về Sài Gòn do một người bạ của chúng tôi làm. Sau khi dọn hết
đồ ở Long Xuyên người bạn này chạy chiếc Honda Dame đón tôi và người
bạn nữa. Chiếc xe thì nhỏ mà chở ba người nên chạy trên đường Nam Kỳ
Khởi Nghĩa thì bị công an thổi còi, phải chạy lạng lách lòng vòng và tôi
còn nhớ khi chạy đến Công viên Bách Tùng Diệp bây giờ (Ngã ba Nam Kỳ
Khởi Nghĩa – Lý Tự Trọng, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) thì chiếc xe
không chịu nổi nên gãy làm đôi.
Tối hôm đó, ba chúng tôi ngồi nghỉ dưới
gốc cây đa to ở công viên với chiếc xe gãy làm đôi và sự thất bại ê chề ở
Long Xuyên nhưng lúc đó, chúng tôi lại nói chuyện về những ước mơ của mỗi người, về những mong ước của cái hãng cà phê bé nhỏ của chúng tôi.
Thất bại ở Long Xuyên làm chúng tôi cạn
kiệt hoàn tàn về vốn liếng, công việc kinh doanh cà phê ở Buôn Ma Thuột
cũng gặp nhiều bế tắc, chúng tôi không bán được cà phê, công việc kinh
doanh chỉ cầm cự tính được từng ngày. Câu hỏi đặt ra thôi thúc chúng tôi
là vốn liếng đâu để tiếp tục duy trì.
Lúc đó, chúng tôi có một người bạn đi
làm đã được ba năm và dành dụm được trong suốt thời gian đó để mua một
chiếc xe Dream trị gia khoảng gần 30 triệu. Tại thời điểm đó thì chiếc
xe là cả một tài sản rất lớn của bản thân và gia đình. Chúng tôi suy
nghĩ và quyết định ngỏ ý muốn mượn chiếc xe mang đi bán làm vốn kinh
doanh. Chúng tôi đặt vấn đề với người bạn một cách chân phương: nếu đã
cho mượn thì coi như đã mất và nếu thành công thì chúng tôi trả lại.
người bạn đã về suy nghĩ và quyết định cho chúng tôi mượn xe đem đi bán.
Bây giờ tôi có đủ sức mua cả
ngàn chiếc xe Dream nhưng vẫn không có chiếc xe nào quí giá bằng chiếc
xe máy tình bạn của chúng tôi ngày đó cộng với sự phiêu lưu của tuổi
trẻ. Giá trị vô giá của tình bạn là ở những thời điểm khó khăn nhất có
những người bạn đã chia sẻ, sát cánh cùng chúng tôi bắt đầu việc tiếp
tục gây dựng Hãng cà phê Trung Nguyên.
VII- BƯỚC PHÁT TRIỂN
Sài Gòn là một thị trường đầy tiềm năng
nhưng rất khó khăn. Tại thời điểm mà chúng tôi mới bắt đầu về thăm dò
tại Sài Gòn thì mỗi hãng cà phê đều tài trợ cho mỗi quán bán cà phê của
hãng là khoảng 5 triệu đồng. Chúng tôi ngồi nhẩm tính với 100 quán thì
lên đến con số quá sức tưởng tượng với vốn liếng là nửa chiếc xe gắn máy
đi mượn của người bạn. chúng tôi đi tìm những điểm bán cà phê nổi tiếng
để học hỏi, tìm hiểu bí quyết rang xay cà phê ngon và họ tuyên bố rất
đơn giản: chỉ có 10 chữ và bán giá với 10 triệu đồng. Nhưng đó là những
gì tinh túy, chắt lọc nhất của bí quyết chế biến cà phê.
Vào năm 1996, người làm ăn thuộc thành
phần tư nhân rất khó tiếp cận nguồn vốn vay từ nhà nước. Nhóm chúng tôi
lại như những lần nào, mỗi một lần muốn đầu tư là một lần phải góp vốn.
những đồng tiền cóp nhặt bằng mồ hôi của chúng tôi luôn luôn có ý nghĩa
trong những lần “đại hội cổ đông” như thế này. Chúng tôi dần dần mua
được máy rang nhập khẩu từ Mỹ và Đài Loan. Trước đây trong đám chúng tôi
có người than: mình có làm được 20 năm nữa cũng không bằng người ta.
Tôi tỏ rõ quyết tâm rằng: 20 năm nữa của người ta chúng ta chỉ làm trong
6 tháng! Mà đúng vậy. Chúng tôi chỉ mất 6 tháng để có tiếng tăm và một
thị trường rộng lớn khắp Tây Nguyên. Tiếp đó, chúng tôi vươn tay về Sài
Gòn.
Ngày 20-8-1998 đi vào lịch sử Hãng cà
phê Trung Nguyên khi chúng tôi khai trương quán cà phê đầu tiên tại số
587 Nguyễn Kiệm, Quận Phú Nhuận, Thành Phố Hồ Chí Minh với hình thức
phục vụ uống cà phê miễn phí trong vòng 10 ngày. Và đó cũng là quán cà
phê đột phá đi vào lịch sử của giới uống cà phê Sài Gòn khi lần đầu tiên
có một quán cà phê phục vụ uống cà phê miễn phí.
Chúng tôi đã định hình quán cà phê của
Trung Nguyên là quán cà phê mà khách hàng có thể mua hàng, uống cà phê
đối chứng. chúng tôi đã tìm hiểu rất kỹ các quán cà phê ở Sài Gòn để
quyết định đưa rất nhiều loại cà phê để khách hàng chọn lựa và hướng dẫn
cách thưởng thức cà phê đúng nghĩa theo kiểu cà phê Trung Nguyên. Và
điều khác biệt nhất đối với tất cả các quán cà phê tại thời điểm đó là
chúng tôi chỉ ra cho khách hàng thấy bàn chất của cà phê, sự khác biệt
đặc trưng giữa cà phê Robusta và Arabica, giữa Culi và Robusta và cà phê
Sẻ, cà phê Chồn…
Đến bây giờ, quán cà phê này vẫn duy trì
hoạt động ở địa điểm cũ nhưng ít ai biết rằng đây là quán cà phê đầu
tiên của chúng tôi tại Sài Gòn để từ đây chúng tôi phát triển lên đến
con số 500 quán cà phê tại Việt Nam như hiện nay và tiếp tục mở những
quán cà phê khác tại nước ngoài.
Cũng trong năm 1998, trên đường Điện
Biên Phủ – Pasteur, Quận 3, Thành Phố Hồ Chí Minh xuất hiện một quán cà
phê thứ 2 mang thương hiệu Trung Nguyên. Ngay từ khi xuất hiện, Trung
Nguyên đã đem lại một không khí cà phê rất khác biệt cho người dân thành
phố có thói quen uống cà phê từ thời Pháp thuộc này.
VIII- TRĂN TRỞ VÀ HÀNH ĐỘNG VÌ VỊ THẾ VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI TOÀN CẦU HÓA
Năm 2000, khi lần đầu tiên tôi đi ra
nước ngoài là đến Singapore, tôi thật sự bị sốc và ấn tượng mạnh với một
quốc đảo nhỏ bé, rất trẻ với sự phát triển mạnh mẽ và dường như cả một
thế giới khác hoàn toàn mở ra trước mắt tôi. Tại thời điểm đó, thông tin
về Việt Nam rất ít được bạn bè thế giới biết đến hoặc biết đến những
thông tin tiêu cực, không chính xác. Trong suy nghĩ của nhiều người dân ở
các nước tôi đến là hình ảnh một Việt Nam trong chiến tranh,
một Việt Nam nghèo nàn lạc hậu, họ không được biết nhiều về Việt Nam với
nhiều hình ảnh khác, với những giá trị văn hóa, dân tộc truyền thống,
với những khung cảnh tươi đẹp thanh bình hay những thay đổi của nền kinh
tế đang tăng tốc phát triển.
Điều này đã làm cho tôi rất tự ái, cảm
tháy mình mang một mỗi nhục của sự tụt hậu, sự thua kém về nhiều thứ
trước nhiều cơ hội và thách thức mở ra của đất nước trong bối cảnh nền
kinh tế mở cửa, hội nhập. Tôi cảm thấy mình phải có một phần trách nhiệm
chuyển tải được những giá trị văn hóa Việt, chuyển tải những hình ảnh
tích cực hơn về Việt Nam, về một quốc gia không chỉ anh hùng trong chiến
đấu mà còn mạnh mẽ, kiên cường từng bước vươn lên bằng nội lực của cả
một dân tộc để nhanh chóng bắt kịp và hội nhập vào nền kinh tế khu vực.
Dân tộc Việt Nam có một bề dày lịch sử,
về tinh thần quật khởi và không cam chịu lùi bước trước nhiều kẻ thù
mạnh hơn, đông hơn, hiện đại hơn và nhiều thủ đoạn hơn. Ở mỗi thời kỳ
lịch sử, dân tộc Việt Nam đều lập nên những chiến tích vang dội, vậy khi
đất nước chuyển qua thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước bằng nội
lực, bằng kinh tế thì chúng ta sẽ ghi dấu bằng kỳ tích gì đây. Việt Nam
hoàn toàn có thể làm được như nước Nhật, Hàn Quốc đã từng đứng lên trong
tro tàn đổ nát của chiến tranh, trong sự nghèo khó của cả một dân tộc.
Và họ đã chứng minh cho cả thế giới thấy sự diệu kỳ của nề kinh tế Nhật
Bản, Hàn Quốc của ngày hôm nay bằng hình ảnh của những biểu tượng tập
đoàn kinh tế, bằng những thương hiệu nổi tiếng khắp toàn cầu.
Thời chiến tranh, những người lính đã
không ngần ngại hy sinh cả sinh mệnh, cả tuổi thanh xuân và nhiều thứ
khác hơn nữa để mong có một Việt Nam hùng mạnh thì ngày nay chúng ta
phải cạnh tranh bình đẳng công bằng, càng phải chiến đấu với một tinh
thần cao hơn để xứng đáng vơi cống hiến của cha ông ta. Chỉ cần
bây giờ chúng ta có một nửa hào khí của dân tộc năm xưa trong chiến trận
thì tôi tin chúng ta sẽ làm nên được những điều kỳ diệu cho đất nước
trong thời bình.
Tôi không phải là người bán cà phê đơn
thuần: chúng tôi có mục tiêu xây dựng một hình ảnh quốc gia thông qua
thương hiệu Việt. Trong mỗi sản phẩm Trung Nguyên, chúng tôi gửi đi một
thông điệp: hãy dùng hàng Việt Nam. Tất nhiên, nếu chất lượng hàng đó
xứng đáng.
Thương hiệu là hình ảnh quốc gia. Thấy
Toyota, Sony, Hitachi, JVC người ta biết đó là Nhật. Thấy Mescedes là
nghĩ ngay tới Đức. Thương hiệu trờ thành một đại xứ, hình ảnh đối thoại
của một quốc gia, một dân tộc.
Tôi luôn trăn trở về hình ảnh đối thoại
của quốc gia mình. Ai biết đến ta? Nếu không thì mình cứ mãi làm ăn chụp
giật, ăn xổi ở thì. Chúng ta có thể có những doanh nghiệp gia công có
hàng ngàn công nhân, tạo ra giá trị hàng triệu đôla nhưng cũng chỉ thuần
túy gia công mà thôi. Điều đó cũng tốt nhưng chưa tự chủ, chưa bền
vững.
Khi quốc gia có những thương hiệu mạnh
thì chính những thương hiệu này sẽ có tình dẫn dắt, là nguồn cảm hứng
thúc đẩy mạnh mẽ hơn nhiều thương hiệu, nhiều doanh nghiệp mang cùng
khát vọng vươn ra thế giới và trở thành niềm tự hào của nhiều quốc gia.
Lâu nay, chúng ta có cách nhìn và suy
nghĩ sai lầm khi cho rằng những lợi thế so sánh lâu nay vốn là điểm mạnh
của chúng ta như nhân công trẻ, thuận lợi về địa lý…Trong xu thế toàn
cầu hóa thì những lợi thế so sánh nêu trên sê dần được thay thế bằng
những lợi thế cạnh tranh mới là chuỗi giá trị gia tăng cộng thêm cho
thương hiệu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của
chính cả quốc gia. Quốc gia nào thiết lập được một cách chặt chẽ mối
liên kết ngành thì sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh của chính quốc gia đó
trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hội nhập và phát triển.
Nếu chúng tôi là những chiến sĩ thời hòa
bình ra trận với hành trang của lòng tự tôn dân tộc, là sự nhạy bén
xoay sỏ trên thương trường thì phía sau chúng tôi còn là một hậu phương
vững chắc rộng lớn của hàng triệu người tiêu dùng Việt đã ủng hộ, tin
tưởng cho những thương hiệu Việt, sản phẩm Việt. Sự hậu thuẫn mạnh mẽ
trở nên có ý nghĩa hơn khi chính các doanh nghiệp Việt phải chuẩn bị sẵn
sàng tinh thần chiến đấu vì một thương hiệu Việt. Sẽ có những mất mát,
những hy sinh, những tổn thất rất lớn về tài lực trong một cuộc chiến
không cân sức ngay trên chính đất nước của chúng ta, nhưng không thể vì
thế mà các doanh nghiệp, các thương hiệu Việt không sẵn sàng xả thân
chiến đấu. Trong cuộc chiến không cân sức thì sự liên kết hợp lực giữa
các thương hiệu Việt, cộng đòng doang nghiệp, doanh nhân Việt sẽ là sức
mạnh cốt lõi vì một hình ảnh thương hiệu quốc gia.
Điều trăn trở của tôi còn là sự
day dứt của nhiều bạn trẻ đang mặc cảm của sự nghèo khó, của lòng tự ti,
nhưng tiền bạc không phải là vốn mà điều quan trọng là phải có những
ước mơ lớn lao. Hiện nay, có nhiều bạn trẻ đang mang trong lòng những
ước mơ rất hạn hẹp về những giá trị vật chất mà thiếu đi “chất lửa” của
tuổi trẻ khát khao được cống hiến, được chia sẻ và tâm huyết với những
thay đổi lớn lao của dân tộc, của đất nước – đó cũng là một
phần lỗi không nhỏ ảnh hưởng của nên giáo dục hiện nay đang làm bảo mòn
đi tính sáng tạo trong suy nghĩ của họ.
Cuộc hành trình của tôi, những con người
tâm huyết Trung Nguyên, dù dưới hình thức nào cũng đều nhằm mục tiêu
gửi đi thông điệp: hãy xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam, người
Việt ùng hộ hàng Việt. Và luôn trăn trở để làm thế nào cùng chung sức
xây dựng thương hiệu hình ảnh quốc gia, xác lập niềm tự hào dân tộc bằng
những thương hiệu Việt vươn tầm Quốc tế”…
(Trích từ cuốn sách “Tài năng và đắc dụng”)